9
Ngày hôm sau, ta vào thành một chuyến.
Tìm hỏi khắp nơi, cuối cùng cũng biết tung tích vị đại phu từng chữa chân cho lão phu nhân.
Tiếc là trong người chẳng có bao nhiêu tiền, không mời được người.
Nhưng đại phu có ghi cho vài phương thuốc hoạt huyết thư cân, lại chỉ ta mấy huyệt đạo xoa bóp.
Ông còn nói:
“Người bệnh nằm lâu như chèo ngược nước, không tiến tức là lùi. Nếu không rèn luyện thường xuyên, e là khí huyết đình trệ, dù có thần y cũng bó tay.”
Ta ghi nhớ từng chữ.
Về đến nhà, vừa khéo thấy một gã nam nhân mỏ nhọn mặt dài, vác cuốc đứng ngoài cổng rình mò.
Thấy ta về, hắn sợ đến hồn phi phách tán, co giò bỏ chạy như gặp ma.
Ta mang gói đồ vào phòng, Đổng đại lang vẫn dõi mắt nhìn theo từng bước.
Ta hỏi hắn có đói không – lắc đầu.
Khát không – vẫn lắc đầu.
Vậy thì sao?
Cuối cùng, hắn khẽ nói:
“Hồi nãy, ta tưởng… nàng không về nữa.”
Ta mỉm cười:
“Không về, ta đi đâu được? Ta kể bệnh của huynh cho đại phu nghe rồi, ông ấy bảo nếu kiên trì thì có hi vọng đứng lên.”
Nói rồi, ta đặt lên đùi hắn một cuốn sách nhàn tản.
“Ta mua cho huynh đấy, xem thử có hợp không.”
Đêm khuya, lúc ta sắp ngủ, bên tai vang lên một tiếng thì thầm mơ hồ:
“A Ngọc… nàng nói xem… ta có thể đứng lên thật chứ? Chỉ cần đứng được, có còn là phế nhân không?”
Ta mơ màng, lời chẳng qua đầu óc:
“Gia chủ ta từng hầu hạ, tay chân lành lặn, chẳng đọc được sách, buôn bán cũng không nên thân.
Cưới vợ thì chẳng ra gì, trêu chọc nha hoàn lại không biết bảo vệ, để chủ mẫu mặc sức đánh giết.
Ta thấy… kẻ như thế mới gọi là phế nhân.”
Giữa giấc mơ, giọng Đổng đại lang trong vắt như nước mưa đầu hạ:
“Vậy ta… sẽ cố đứng dậy, cùng A Ngọc đi dọn dẹp phế vật kia, có được không?”
“Được.”
Đêm sâu, mà tiếng mộng thoại càng sâu.
10
Một ngày nọ, trong sân bỗng xuất hiện một gói đồ.
Ta mở ra xem – là một chiếc áo lót phụ nữ thêu hoa mẫu đơn đỏ rực.
So sánh nét chỉ, ta khẳng định đây là áo Lư Tiểu Hồng từng mặc khi còn sống.
“Hừ!” –
Quỷ dữ đã hiện hình.
Chỉ là… ta đây vốn đã chết qua một lần, sao còn sợ hãi những thứ đó?
Đám gà con trong sân lớn nhanh như thổi, nay đã to bằng chim bồ câu, ăn khỏe hơn trước rất nhiều.
Ta nói với Đổng đại lang, mình ra ngoài hái ít rau dại băm nhỏ trộn tạp cốc cho lũ gà.
Lương thực tận dụng từ bếp cũng gần cạn rồi.
Hắn gật đầu đồng ý.
Trước khi đi, còn nhắc ta lấy khăn buộc tóc:
“Ta thấy mấy bà trong thôn lúc đi làm đồng đều quấn đầu cả, để khỏi phải gội đầu khi về.”
“Lúc trước Lư Tiểu Hồng có quấn không?” – ta chợt hỏi, bụng muốn dò la phản ứng kẻ trong bóng tối.
Đổng đại lang nghe xong, lông mày lập tức nhíu cao.
“A Ngọc, nàng khác nàng ấy.”
“À…” – ta nghẹn lời, chẳng qua ta chỉ muốn diễn cho giống, đỡ bị nghi ngờ thôi mà.
Ra khỏi thôn, đập vào mắt là một cánh đồng rộng lớn, xa xa có mấy nông dân đang cắm cúi làm việc.
Phía đông là một dãy rừng rậm.
Ta xách giỏ bước về phía chân núi.
Chỗ gần lối mòn đã bị người ta đào sạch rau dại, ta lại phải men vào sâu thêm mấy dặm.
Đã bước vào mùa hạ, rau khổ qua (khổ thái) trong núi đã cao lớn, chẳng còn vị tươi non của ngày xuân, gốc đã già, vị cũng đắng hơn nhiều.
Nhưng lại rất hợp để nuôi gà con.
Nhổ được một nắm khổ thái, cọng rau vẫn còn rỉ ra nhựa trắng sữa — bầy gà nhỏ chắc chắn sẽ thích lắm.
Ta ngồi xổm trên đất, vừa đào vừa tìm, lúc đầu còn có chút tâm tư khác, nhưng rất nhanh đã bị mớ rau hấp dẫn, rồi tập trung hết vào việc đào hái.
Cả buổi sáng, chiếc giỏ đã đầy ắp.
Vừa định quay về, trong rừng bỗng vang lên một tiếng gọi nam nhân:
“Lư nương tử!”
Ban ngày ban mặt, tiếng gọi ấy lại khiến ta lạnh cả sống lưng.
Ngẩng đầu nhìn quanh, thấy dưới một tán cây lớn trong rừng, có kẻ cao gầy, má hóp, thắt lưng đeo liềm, mặc áo vải thô màu đen, đang cười toe toét vẫy tay với ta.
“Ngươi là ai?” – ta hỏi.
Tên đó cười hề hề, lộ ra một hàm răng đen kịt, cách xa thế mà còn như ngửi thấy mùi thối từ miệng hắn.
“Lư nương tử, lại đây nào.” – hắn tiếp tục vẫy.
Ta liếc nhìn ruộng xa xa, nơi vẫn có người làm đồng. Nếu ta hét to, chắc chắn có người nghe thấy. Thế nên, ta lấy dũng khí, tiến lên vài bước.
“Ngươi là ai, ta không nhận ra.”
Hắn càng cười khoái trá:
“Xem ra lời dân làng không sai, Lư nương tử quả thật bị mất trí rồi.”
“Trước đó có va đầu, đúng là quên nhiều chuyện lắm.” – ta thuận theo lời, vẫn là cái cớ mà bấy lâu nay ta nói với cả thôn.
Ta lại hỏi một lần nữa: “Ngươi là ai?”
Tên kia càng cười lớn:
“Ta là tình lang của nàng!”
“Tình lang?” – ta vờ ngây ngốc, nhưng răng đã nghiến chặt.
“Hẳn rồi, Lư Tiểu Hồng à, trước khi bị Đổng đại lang chuộc về, nàng có hai người tình lang, nhớ không?”
“Không nhớ.” – ta đáp ngay.
“Không sao, ca ca sẽ nhắc lại cho nàng nhớ. Trước kia ta thương nàng lắm.”
Ta cố nén ghê tởm, hỏi: “Không phải nói có hai người sao, sao chỉ thấy một mình ngươi? Không phải lừa ta đấy chứ?”
“Hà hà sao lại thế được! Đại ca ta… bận nên chưa đến. Mấy hôm trước, cái áo yếm đỏ gửi đến nhà nàng, chính là tín vật đính ước giữa chúng ta đó!”
Đến đây, ta gần như đã khẳng định được: hai tên này chính là hung thủ hại chết Lư Tiểu Hồng.
Cả hai đều đang dò xét nhau.
Tên kia hỏi ta có nhớ vụ đập đầu thế nào không.
Ta tiếp tục giả ngu:
“Chỉ nhớ lúc đó bệnh tim tái phát, chắc là ngất xỉu, đầu đập vào đâu đó rồi bất tỉnh.
May có người tốt đem ta ném vào hố xác, ta tự mình bò lên, lại được bà trong thôn dẫn về.”
Ta còn cố tình làm bộ oán trách:
“Đổng đại lang nằm một chỗ cả ngày, buồn chết đi được, lại không cho ta ra ngoài chơi.”
Tên đó lập tức cười ha hả:
“Muội muội ngoan, để ca ca chơi cùng nàng.”
“Vậy ngươi theo ta về nhà đi?”
“Không được đâu, ta không tiện vào thôn. Thế này đi, chọn một đêm trăng tròn, mình hẹn nhau trong rừng, được không?”
Ta làm bộ chê: “Một mình ngươi, chơi cũng chẳng thú vị.”
Hắn sốt ruột: “Yên tâm đi, lần sau ta mang cả đại ca theo, ba người mình cùng vui.”
Hẹn ước là đêm trăng tròn gặp tại rừng, ta mới quay người về thôn.
Về đến nhà, mới phát hiện lưng áo đã ướt đẫm mồ hôi lạnh.