Khi roi đầu tiên quất xuống thân thể, ta liền hối hận.
Nhị Hoa ơi Nhị Hoa…
Ngươi sao lại ngu muội đến thế? Quên mất thân phận của mình rồi ư?
Thế tử muốn đánh, muốn mắng, thì cứ nhận lấy mà chịu.
Cùng thế tử tranh cãi, chẳng phải là tự tìm đường chết sao?
Roi đầu tiên khiến mồ hôi lạnh tuôn khắp người, lưng ta như bị lửa thiêu đốt, đau đớn tê dại. Ta sợ nếu đợi thêm sẽ không còn sức nữa, vội lên tiếng cầu xin: “Phu nhân, nô tỳ nhận sai!”
Nhưng chẳng ai thèm để ý.
Lại thêm một roi nữa, kẻ cầm roi như mang thù, cứ nhằm thẳng vào những chỗ đau nhất mà đánh.
Đến roi thứ năm, trong đầu ta chỉ có một suy nghĩ: Thế tử có đang nhìn ta chịu phạt không?
Hóa ra hắn ghét ta đến vậy.
Thì ra ta đã lầm, lầm tưởng một thế tử ngốc nghếch lại chính là người chân thật.
Đoạn Trần, hắn là kẻ ngoài lạnh, trong cũng lạnh như băng.
Roi thứ mười giáng xuống, đầu roi kéo theo từng mảnh da thịt vụn vỡ, mùi máu tanh nồng xộc thẳng vào mũi, khó ngửi vô cùng.
Tiểu Manh và Thúy Vi dìu ta trở về phòng.
Thúy Vi khóc ròng: “Lan Linh, ngươi thật là hồ đồ!”
Ta đau đến mức không còn cảm giác gì, thế mà vẫn có thể bật cười: “Hảo tỷ muội, ta tên là Nhị Hoa. Ta nói cho ngươi biết tên thật của ta, đợi ta ra khỏi đây, chúng ta sẽ mãi là bằng hữu.”
Thúy Vi cũng nói cho ta biết tên của nàng.
Ta mơ màng chìm vào giấc ngủ, không biết bao lâu.
Đến nửa đêm, cơn đau khiến ta tỉnh giấc.
Có người đang bôi thuốc cho ta. Trong cơn mơ hồ, ta nghĩ, Thúy Vi thật tốt với ta, còn mua cả thuốc cao hảo hạng, mát lạnh, làm dịu đi phần nào cơn đau rát.
Dẫu động tác người kia rất nhẹ nhàng, nhưng từng thớ thịt vẫn đau đớn như thiêu như đốt.
“Ái… đau quá.”
“Ta sẽ nhẹ hơn.”
Là giọng của thế tử.
Ta dụi dụi mắt, mở to ra nhìn, chỉ thấy mình đang nằm trên giường của thế tử.
Ngay lập tức, cơn đau trong lòng càng dữ dội hơn.
Ta chẳng muốn nói gì, bèn nhắm mắt giả vờ ngủ.
Thế tử bôi thuốc xong, lặng lẽ ngồi vào bàn đọc sách, cả đêm không ai nói với ai một lời, mãi đến khi trời sáng.
Suốt một tháng sau, ta dưỡng thương trong phòng. Thế tử dường như hóa thành người câm, mỗi ngày chỉ đến bôi thuốc, thi thoảng nửa đêm lại nằm bên cạnh ta ngủ.
Ta chỉ có thể nằm nghiêng, luôn quay lưng về phía hắn.
Khi sắp thiếp đi, ta nghe thấy giọng hắn khàn đặc: “Còn đau không?”
Ta mở mắt.
Hắn lại nói: “Sao ngươi không chịu mềm mỏng một chút?”
Ta không thèm trả lời hắn.
Ta không dám nghĩ, chỉ mười roi thôi mà ta đã khóc không thành tiếng. Vậy người chỉ vì một cái hắt hơi mà chịu ba mươi roi kia, liệu còn sống được hay không?
Tính ra, hôm nay là ngày cuối cùng ta ở Hầu phủ. Thế tử không quay lại.
Ta lo sợ hắn thật sự phái người đến tìm cha mẹ ta. Ta không muốn cả đời bị giam cầm trong Hầu phủ.
Có lẽ người khác khao khát cái phúc phận này, nhưng ta thì không.
Ta không muốn nửa đời còn lại phải sống trong cảnh cúi đầu khom lưng, càng không muốn phải dối lòng mà nói với người thế tử phi dịu dàng kia rằng: “Ta không tranh, không giành, ta cam tâm cùng nàng chung chồng.”
Ta cũng không muốn nhìn thấy người mà mình yêu thích, mỗi lần về nhà đều phải trăn trở, đêm nay nên đến phòng của nữ nhân nào.
Tên của ta và thế tử đặt cạnh nhau, chỉ khiến người khác nghe xong liền cười chê.
Thế tử đã trở về, nhưng lại mang trên mình thương tích.
Hóa ra, trong thời gian ta dưỡng bệnh, Diêu di nương ăn nhầm phải thứ gì đó, mất đi đứa bé trong bụng. Nàng đổ tội cho thế tử, khăng khăng rằng chính hắn là kẻ đứng sau.
Kết quả, Đại phu nhân tìm được nhân chứng, chứng minh lần thế tử rơi xuống nước trước đây chính là mưu kế của Diêu di nương.
Hầu gia nổi giận, quyết định đuổi Diêu di nương ra khỏi phủ.
Trước khi rời đi, Diêu di nương cầm dao đâm vào thế tử, muốn khiến Hầu gia tuyệt tử tuyệt tôn.
Khi ấy, ta đã có thể xuống giường đi lại. Nhìn thấy họ dìu thế tử trở về, hắn hôn mê, giọng yếu ớt vẫn gọi: “Ta không sao… Lan Linh đâu?”
Trong lòng ta chỉ nghĩ đến tờ bán thân khế. Nhân lúc mọi người đều cuống cuồng chăm sóc thế tử, ta lẻn đến ngăn bí mật, lấy lại tờ khế ước, thu dọn hành lý, rồi rời khỏi Hầu phủ.
Không khí bên ngoài trong lành và ngọt mát, mọi uất kết trong lòng bỗng tan biến.
Ta hít một hơi thật sâu, rồi đi nhanh về hướng quê nhà.
Về đến nhà, ta thấy mẹ đang thu dọn đồ đạc. Vừa nhìn thấy ta, bà liền mừng rỡ bật khóc: “Hoa nhi của mẹ!”
“Mẹ ơi, cha đâu rồi?”
“Cha con mắc bệnh lao, đã qua đời rồi.”
Mẹ nói: “Con về đúng lúc lắm, mẹ đang tính bán căn nhà này, chuyển lên trấn trên mở một sạp thịt heo. Mẹ đã xem xét kỹ rồi.
“Năm đó cha con nhất quyết bán con đi, mẹ đau lòng lắm…”
Mẹ định ôm ta, nhưng vô tình chạm phải vết thương chưa lành, đôi mắt bà lập tức ngấn nước: “Con về được là tốt rồi, đã chịu nhiều khổ sở rồi.”
Ta và mẹ chuyển đến trấn trên. Sạp thịt không lớn, phía sau là sân nhỏ nuôi heo, phía trước là nơi bán thịt. Mẹ ta dung mạo xinh đẹp, lại ăn nói khéo léo, khách đến mua thịt cũng ngày một đông.
Hai đứa em trai của ta đã đến tuổi học tư thục, ta liền nhận trách nhiệm đưa đón chúng.
Mỗi lần trở về, ta lo việc cho heo ăn, giặt giũ, ngày tháng trôi qua yên ả và êm đềm.
“Hoa nhi, con có muốn lập gia đình không?”
Mẹ hỏi ta: “Mẹ sẽ chọn kỹ cho con, nhất định không để con rơi vào cảnh như mẹ chọn phải một người như cha con.”
“Tất cả nghe theo mẹ.” Ta cười đáp.
Mẹ thực sự rất để tâm. Ở tư thục nơi em trai ta theo học, có một thư sinh đảm nhiệm việc giúp thầy giảng bài. Đó là con trai của ông thầy giáo.
Mẹ liên tục ba ngày hai lượt mang thịt heo đến tặng phu nhân của thầy giáo, còn dặn ta mỗi lần đưa em đến lớp, ở lại lâu thêm một chút.
Ban đầu, ta không mấy bận lòng, chỉ ngồi đó nghe một chút bài giảng.
Thư sinh luôn ngồi thẳng lưng, giọng nói nhẹ nhàng như gió xuân, lũ trẻ trong lớp đều thích hắn.
Hắn quay sang nói với ta: “Cô nương, vào đây nghe đi.”
Ta theo lời, học được không ít chữ nghĩa. Về đến nhà, những bài thơ mà em trai ta không thuộc, ta lại đọc trôi chảy.
Mẹ che miệng cười: “Hoa nhi của mẹ cũng thông minh lắm chứ.”
Hôm đó, thư sinh giảng cho ta về “tri hành hợp nhất.” Lý lẽ thật sâu xa khó hiểu, ta chỉ ngồi nhìn hắn.
Hắn đỏ mặt, giọng nói nhỏ dần.
Tiếng đọc sách của bọn trẻ bỗng bị cắt ngang. Mấy gã thị vệ bước vào, trong tay cầm một bức họa.
“Có ai từng gặp qua một nha hoàn tên là Lan Linh không?”
Ta nấp sau lưng thư sinh, nhìn thoáng qua bức họa, trên đó chính là ta, còn cài trâm hoa quế trên tóc.
Thư sinh liếc nhìn ta, rồi nói trước: “Chưa từng gặp.”
Bọn trẻ thông minh, bắt đầu rì rầm trò chuyện, khiến bọn thị vệ thấy phiền. Hỏi thêm một câu rồi bọn họ rời đi.
“Ngươi tên là Lan Linh?” Thư sinh thắc mắc.
Ta lắc đầu: “Ta tên Nhị Hoa.”
Thư sinh nói: “Nhưng người trong bức họa giống ngươi y hệt.
“Họ đang tìm một nha hoàn thông phòng của thế tử. Có phải là ngươi không?”
Ta chợt hiểu ra, dù không thừa nhận, nhưng từ đó ta không dám quay lại lớp học nữa.
Ta nói với mẹ: “Con e rằng không ai muốn cưới con đâu. Người ta chẳng bao giờ muốn lấy một thông phòng làm vợ cả.
“Huống chi là một thư sinh tự cho mình cao quý.”
Mẹ an ủi ta: “Không sao. Nếu không ai cưới con, con cứ ở với mẹ bán thịt heo, kiếm thật nhiều bạc.”
Mẹ không kể với ta, rằng ngày hôm ấy bọn thị vệ đã hỏi bà.
Mẹ chẳng hề để tâm, chỉ nói rằng đó là con gái bà.
Sáng hôm sau, trước cửa tiệm thịt heo của chúng ta đã xuất hiện một vị khách ăn mặc vô cùng hoa lệ.
Thị vệ của hắn đứng phía sau, khiến không ai dám lại gần mua thịt.
Ta giữ vẻ mặt thản nhiên: “Quý khách muốn mua mấy cân thịt lợn?”
Hắn đưa ra một cây trâm.
Đó là một chiếc trâm được chạm khắc tinh xảo hình hoa quế, giá trị chắc chắn không nhỏ.
Ta dùng dao mổ lợn đẩy chiếc trâm sang một bên: “Không mua thịt thì xin tránh ra.”