Từ khi Nhị Lang trở về, tiệm đậu hoa vốn đã đông khách nay lại càng nhộn nhịp hơn.
Trước tiên là quan huyện thừa đích thân đến ăn đậu hoa, sau đó đến cả phủ doãn Đào Châu cũng ngồi xe ngựa tới.
Lúc này ta mới biết, trong trận chiến biên cương, Đội trưởng Bùi (tức Nhị lang) từng dẫn theo 1.000 quân, vượt sông Hỗn Hà và núi Lục Sơn, phối hợp cùng Đại tướng quân Trấn Bắc, chiếm lại huyện Vũ Từ từ tay rợ Hồ.
Sau đó, hắn lại dẫn quân tấn công vào hậu phương địch, bắt sống hàng nghìn phụ nữ, người già và trẻ nhỏ của quân Hồ.
Khi ấy có người đề xuất giữ lại tù binh để dùng làm con tin đàm phán. Nhưng hắn chỉ nhạt giọng đáp:
“Thừa thãi.”
Hàng nghìn phụ nữ và trẻ nhỏ bị xử tử, thi thể bị thiêu rụi sạch sẽ.
Lúc ra lệnh, ai nấy đều bảo rằng Đội trưởng Bùi thủ đoạn tàn nhẫn, máu lạnh vô tình.
Tin tức truyền đến Hoa Kinh, nhiều văn quan phẫn nộ, cho rằng hành động này chẳng khác gì rợ Hồ.
Đương kim thánh thượng vốn là minh quân nhân từ, Đại Sở từ lâu đã có quy định không sát hại tù binh đầu hàng, huống hồ đây lại là phụ nữ và trẻ nhỏ.
Chuyện này khiến tên tuổi của Đội trưởng Bùi nổi như cồn, được khen chê lẫn lộn.
Đến khi chiến tranh kết thúc, Đại tướng quân Trấn Bắc cùng lão Bình Tây Vương vào kinh bái kiến hoàng đế, cả hai đều được phong thưởng. Nhưng duy chỉ không thấy chiếu thư ban thưởng cho Đội trưởng Bùi – người lập công nhiều nhất.
Lão Bình Tây Vương không nhịn được mà nhắc nhở:
“Hồi thành Bình thất thủ, huyện Vũ Từ bị rợ Hồ đồ sát, nguyên do cũng bởi lính Bắc Quan thương hại một đứa trẻ rợ Hồ mà tạo cơ hội cho nó hạ độc xuống sông.
“Lòng nhân từ trên chiến trường chính là đem dao đặt vào sau lưng mình. Ai có thể bảo đảm trong số mấy nghìn phụ nữ và trẻ nhỏ kia không có kẻ mang dã tâm?”
Không ai hiểu rõ hơn những người trở về từ biên cương về sự nham hiểm, tàn độc của rợ Hồ.
Bình Tây Vương nói thêm:
“Bệ hạ thân là thiên tử, nên có trách nhiệm như thiên tử.”
Hoàng đế nghe xong cũng tự thấy hổ thẹn, lập tức hạ chỉ phong Đội trưởng Bùi làm Vũ Vệ Tướng quân, ban thưởng vô số vàng bạc châu báu.
Sau đó, ngài lại triệu hắn vào cung, muốn phong thêm chức vị cao quý hơn, thậm chí định ban cho nữ quyến nhà họ Bùi một danh hiệu cáo mệnh.
Nhưng nữ quyến nhà họ Bùi, ngoài thái thái đã lớn tuổi, chỉ còn ta – một quả phụ.
Một quả phụ vừa hiếu thuận với thái thái, vừa nuôi dạy Tiểu Đào, giữ đạo nghĩa lễ giáo, xứng đáng làm gương mẫu.
Hoàng đế hứng khởi, nhưng Nhị Lang lại từ chối.
Hắn từ chối…
Từ chối…
Lại nghe kể rằng, hoàng đế từng hỏi hắn:
“Những người trở về từ biên cương đều được phong thưởng, nhưng ngươi mãi chưa được triệu kiến. Trong lòng có điều gì muốn nói không?”
Hắn đáp:
“Có, ta định cởi giáp về quê làm đậu hoa bán.”
Nghe vậy, hoàng đế thoáng lặng người, bởi ngài nhận ra, giọng điệu của Nhị lang nhàn nhạt, nhưng biểu cảm lại có chút nghiêm túc. Hắn thực sự không để tâm đến vinh hoa phú quý hoàng đế ban tặng.
Quan võ tam phẩm từ kinh thành trở về, quả nhiên rất cao quý.
Từ khi về nhà, Nhị Lang bận bịu không ngừng. Rượu mời của quan huyện có thể không nhận, nhưng mặt mũi của phủ doãn nhị phẩm và tổng đốc tam phẩm thì không thể không nể.
Từ thái độ của họ, ta cảm thấy tương lai của Nhị Lang sẽ rộng mở vô hạn.
Suy đoán này chắc chắn không sai, vì sau đó, tiểu tướng quân Hàn trong lúc ăn đậu hoa ở tiệm, vô tình kể rằng Đại tướng quân Trấn Bắc – Phùng Kế Như rất coi trọng Nhị Lang, thậm chí còn có ý định mời hắn làm con rể.
Nhà họ Phùng ở Hoa Kinh là danh gia vọng tộc, là hoàng thân quốc thích.
Phùng Kế Như không chỉ là anh ruột của Phùng quý phi trong cung, mà còn là cậu ruột của Khang Vương.
Đồng thời, ông cũng là cháu ruột bên nhà mẹ đẻ của đương kim thái hậu.
Nhà họ Phùng có ba tiểu thư chưa xuất giá, và Phùng tướng quân dự định gả con gái út dòng chính cho Nhị Lang. Ý nghĩa trong đó chẳng cần nói cũng rõ.
Nhị Lang – hay giờ là Vũ Vệ Tướng quân – đang đứng trên đỉnh cao mà người khác chỉ có thể ngước nhìn.
Nghe vậy, ta không kìm được mà hỏi Tiểu tướng quân Hàn:
“Tiểu thư Phùng gia là người thế nào?”
“Hẳn là rất tốt, nàng là tiểu thư thế gia mà. Chỉ là nghe nói vì là con gái út dòng chính, nên được nuông chiều từ nhỏ, tính tình có phần kiêu kỳ.”
Hàn tiểu tướng hạ giọng, ánh mắt nhìn xung quanh rồi nói tiếp:
“Nhưng tẩu tẩu cứ yên tâm, trước mặt tướng quân nhà chúng ta, nàng kiêu kỳ thế nào cũng chẳng dám. Nghe đâu, lần đầu tướng quân đến Phùng gia, tiểu thư Phùng nghe nói phụ thân định gả nàng cho tướng quân, bèn tính giở trò, định ra oai phủ đầu một phen. Kết quả, tướng quân hoàn toàn phớt lờ, không thèm bận tâm. Ngược lại, tiểu thư Phùng vừa nhìn thấy tướng quân đã sững sờ, từ đó rất ít ra khỏi cửa, nghe bảo ở nhà thêu thùa để rèn tính.”
Hàn tiểu tướng trông đầy vẻ đắc ý. Ta gật đầu, đáp:
“Nhị thúc nhà ta xuất thân hàn môn, tuy giờ có thể xứng đôi với tiểu thư thế gia, nhưng e rằng sẽ bị người khác xem nhẹ. Nếu là như vậy thì tốt.”
“Xem nhẹ sao được, hắn là Bùi Ý. Một nghìn quân băng qua sông Hỗn Hà, núi Lục Sơn, một lời quyết đoán mà ra lệnh xử tử hàng nghìn phụ nữ và trẻ nhỏ người Hồ. Cái khí phách ấy, ai dám khinh thường?”
Là phụ nữ, dù biết rõ việc Nhị lang ra lệnh xử tử phụ nữ và trẻ nhỏ là quyết định đúng, nhưng khi nghe Hàn tiểu tướng nhắc lại, tim ta vẫn bất giác thắt lại, lòng ngổn ngang khó chịu.
Nhị thúc nhà họ Bùi, quả thực là một người tàn nhẫn.
Nhưng dù hắn tàn nhẫn, vẫn là Nhị thúc của nhà họ Bùi. Trước khi hắn thành thân, những việc cần chăm lo trong nhà vẫn phải đến lượt ta, người quả phụ này lo liệu.
Chẳng hạn như lần này hắn về, ngoài bộ giáp và áo lót trên người, chẳng mang theo món đồ nào khác.
Biên cương lạnh giá, nhưng ở kinh thành và Đào Châu, trời vẫn chưa lạnh đến vậy. Mặc áo lót vào buổi sáng sớm và tối là hợp, nhưng giữa trưa thì lại quá nóng.
Huống hồ giờ đây hắn không thể không tham dự những bữa tiệc do tổng đốc đại nhân chiêu đãi.
Thế nên, ta tranh thủ đi tiệm vải, chọn vài tấm vải tốt, định may cho hắn hai bộ trường bào.
Trước đây, ta thường chọn kiểu dáng theo ý mình, nhưng nay hắn đã về, không thể không hỏi qua ý kiến hắn.
Đợi đến tối muộn, khi ta đang ngồi dưới ánh nến khâu một chiếc đệm da cừu đen, bỗng nghe thấy tiếng động từ hậu viện bên dưới. Sau đó là giọng Tiểu Đào vang lên:
“Nhị ca, huynh lại uống rượu rồi.”
“Ừ,” giọng Nhị lang nhàn nhạt đáp lại.
Tiếng bước chân dần đến gần, cửa phòng bên cạnh mở ra.
Ta đặt kim chỉ xuống, đứng dậy đi qua hỏi hắn:
“Nhị thúc, chiều nay ta đi tiệm vải mua vài tấm, định may cho người hai bộ trường bào. Ta tính dùng lụa xanh lá may áo tròn cổ tay hẹp, còn tấm màu lam đậm thì hơi sẫm, thích hợp may áo cổ đứng, tay áo bó lại. Sau đó dùng lụa màu phỉ để cắt cổ và viền tay áo. Người thấy thế nào? Nếu không thích, ta còn mua thêm hai màu khác…”
Dưới ánh nến chập chờn, hắn vừa đóng cửa sổ lại, vừa quay đầu nhìn ta. Cặp mày kiếm khẽ nhướng lên, giọng trầm thấp pha chút ý cười và dịu dàng:
“Ngươi tự quyết là được.”
Nhị thúc nhà họ Bùi, tính cách lạnh lùng, gương mặt cũng lạnh.
Lần này về, dù khí chất càng lạnh lùng hơn trước, nhưng ta lại cảm thấy hắn gần gũi với người nhà hơn. Ít nhất, hắn không còn giữ mãi vẻ mặt băng giá, thỉnh thoảng trong ánh mắt còn ẩn hiện nét cười.
Ta gật đầu, đứng cách hắn một khoảng, vẫn có thể thoang thoảng ngửi thấy mùi rượu trong phòng. Ta nói:
“Nhị thúc uống rượu sao? Để ta xuống bếp nấu bát trà đường nóng cho người.”
…
Ta nhóm lửa trong bếp. Trà đường rất dễ nấu, chỉ một lát là xong.
Khi ta đặt bát trà đường lên khay, bưng lên lầu, lại không thấy bóng dáng Nhị lang.
Đặt trà xuống bàn, ta xoay người trở về phòng mình.
Quả nhiên, ở căn phòng bên kia vách, hắn đang đứng đó.
Dưới ánh sáng mờ nhạt của nến, dáng người cao lớn của hắn như tạc, thẳng tắp mà đầy sức mạnh. Hắn cúi đầu, đang nhìn những tấm vải ta mua và chiếc giỏ kim chỉ trên bàn.
“Nhị thúc, trà đường đã để trên bàn rồi.”
“Ừm,” hắn khẽ đáp, nhưng không có ý rời đi.
Ta thoáng ngờ vực, hắn bỗng cười nhạt, nói:
“Không phải muốn may áo sao? Sao không đo kích thước?”
Ta sực tỉnh, vội “à” một tiếng, lấy cây thước gỗ trong giỏ ra.
Hắn vẫn mặc chiếc áo lót mới ta may, màu xanh lam nhạt, làm nổi bật vóc dáng cao lớn, thẳng thớm của hắn.
Hắn đứng yên như núi, khuôn mặt dưới ánh nến càng thêm rõ nét từng góc cạnh, đôi mày kiếm anh tuấn, đôi mắt sâu sắc, thản nhiên dang rộng hai cánh tay.
Ta nhìn cây thước trong tay, ngập ngừng hỏi:
“Nhị thúc, áo này không vừa sao?”
“Ừm, hơi chật.”
“Chật sao? Vậy ta sẽ nới phần eo ra là được.”
“Đo lại đi, phần vai và lưng cũng hơi chật.”
Giọng hắn trầm thấp, khẽ khàng mà đầy quyền uy, dường như không cho phép ai phản bác.
Ta buộc phải tiến lên một bước, nhưng rồi lại đặt cây thước gỗ xuống:
“Nhị thúc thứ lỗi, phần eo ta đo bằng tay sẽ chính xác hơn thước.”
“Ừm, phiền ngươi vậy.”
Ta đứng trước hắn, đưa tay ra. Hắn cao lớn đến mức, dưới ánh sáng đổ bóng, ta trông càng nhỏ bé.
Đầu ta chỉ cao đến ngang vai hắn. Bờ vai rộng của hắn, chỉ một bên cũng đủ che hết mặt ta.
Khoảng cách quá gần. Bàn tay ta khẽ đặt lên eo hắn, từng chút đo lường. Dù cố gắng giữ vẻ nghiêm túc, nhưng ánh sáng trên tường phản chiếu, bóng dáng ta như thể đã rơi vào vòng ôm của hắn, quấn quýt cùng một chỗ.
Vóc dáng Nhị Lang rắn rỏi, vòng eo săn chắc. Hơi thở trên người hắn là sự hòa quyện giữa mùi rượu nhè nhẹ và khí lạnh băng sương, khiến lòng ta bất giác run lên.
Ta cố gắng cử động nhanh nhẹn, ngón tay chỉ khẽ lướt trên eo hắn, đo một vòng rồi lập tức thu tay lại.
Đang ghi nhớ số đo trong đầu, ta chợt nghe hắn gọi:
“Sách Ngọc.”
“Ơ?”
Ta ngẩng đầu nhìn, phát hiện khoảng cách giữa hai người quá gần, gần đến mức ta có thể thấy rõ từng biểu cảm nhỏ nhất trên khuôn mặt hắn khi cúi xuống.
Tóc hắn đen như mực, đôi mày như nét núi xa, đôi mắt dài phủ dưới hàng mi dày, sâu thẳm như cất giấu một bí mật không ai biết.
Hắn khẽ mím môi, còn ta, đầu óc trống rỗng, số đo vừa nhớ phút chốc biến mất. Trái tim thoáng chấn động, như thể ta vừa bỏ lỡ điều gì đó quan trọng.
Ánh mắt giao nhau, ta ngơ ngác nhìn hắn, lòng không khỏi hoảng loạn.
Giọng hắn hơi khàn, nói thêm:
“Vai và lưng vẫn chưa đo.”
Ta chợt bừng tỉnh, nhận ra tay mình đang hơi run. Lưng cũng bắt đầu lấm tấm mồ hôi.
Ánh mắt hắn lúc nãy, khác hẳn với Nhị thúc lạnh lùng thường ngày.
Ánh mắt ấy sắc bén đến cực điểm, tựa như ánh sáng mờ nhạt của con sói trong đêm đen, mang theo tia sáng yếu ớt nhưng sắc lạnh đầy nguy hiểm.
Quả nhiên là vị tướng quân trên chiến trường, nổi danh tàn nhẫn, giết người không chớp mắt – chỉ một ánh nhìn thôi cũng đủ khiến người khác kinh sợ.
Ta có chút sợ hắn.
Sau khi ổn định tâm trạng, lúc đo vai và lưng hắn, ta cố tìm chủ đề để nói, tránh cho không khí trở nên quá kỳ lạ.
“Nhị thúc, hôm người cùng tiểu tướng quân Hàn về, họ nói gì đó về bức thư? Nói nếu không có thư, chưa chắc còn sống mà về Đào Châu ăn đậu hoa là sao?”
Hắn im lặng một lúc, rồi chậm rãi đáp:
“Lúc chúng ta lên kế hoạch chiếm lại huyện Vũ Từ, ta cử một đội binh vòng qua sông Hỗn Hà. Khi ấy trời giá rét, tuyết rơi mấy ngày liền. Không ngờ giữa đường gặp đại quân của người Thiết Lặc đóng trại, địch đông ta ít, đánh lên thì khó có phần thắng, lại làm chậm trễ việc lớn. Vì vậy, ta dẫn họ ẩn nấp trên núi Lục.
“Người Thiết Lặc đóng trại ba ngày, chúng ta cũng chịu rét trên núi ba ngày. Lạnh lắm, đêm đầu tiên đã mất hơn chục người. Đêm thứ hai vài trăm người không chịu nổi. Đến đêm thứ ba, ta nói với họ rằng, ở Đào Châu huyện Vân An, nhà họ Bùi ta có một tiệm đậu hoa. Nếu sống sót trở về, ta sẽ dẫn họ đi ăn đậu hoa và canh lòng gà.
“Họ không tin, bảo ta chỉ là gạt họ. Nhưng ta tình cờ mang theo bức thư ngươi gửi, bèn đọc cho họ nghe. Đọc xong, họ đều tin tưởng.”
Hắn dừng lại một chút, rồi chậm rãi đọc lại nguyên văn lá thư:
“Nhà cửa mọi bề yên ổn, thái thái ăn uống tốt, chỉ có Tiểu Đào lười học. Tiệm đậu hoa ngày càng đông khách, hàng xóm bảo đã gần đạt đến hương vị năm xưa của lão Bùi gia. Nay còn bán thêm canh lòng gà, giá mười lăm văn một bát, có cả mì sợi, bánh nhúng vào ăn mùa đông rất ấm bụng. Đợi nhị thúc về, nhất định phải thưởng thức, mong người an lành trở lại.”
Hắn nhắc lại từng chữ, ánh nến vàng nhạt soi lên khuôn mặt hắn, dịu dàng nhưng dường như chất chứa nỗi đau. Giọng hắn khẽ khàng, chậm rãi, cuối cùng còn thấp thoáng một tiếng cười khô khốc.
Tim ta thắt lại, không khỏi siết chặt tay, khẽ nói với hắn:
“Nhị thúc, hành quân đánh trận gặp phải những tình thế như vậy, là chuyện bất khả kháng.”
“Không, vẫn có cách.”
Hắn nhìn ta, ánh mắt sâu thẳm:
“Chúng ta có ngựa. Nếu giết ngựa, chui vào bụng ngựa nằm hoặc uống máu ngựa, sẽ không đến mức chết nhiều người như vậy.
“Nhưng làm thế sẽ chậm trễ quân lệnh. Hơn nữa, giết chiến mã cũng là trọng tội. Nên ta đã chọn giữa quân lệnh và trách nhiệm, và cuối cùng bỏ mặc họ.”
“Đây không phải lỗi của người. Trong hoàn cảnh ấy, chẳng ai biết được lựa chọn nào là đúng. Giết một con ngựa có thể dễ, nhưng nếu mở đầu như vậy, chưa chắc tất cả đã sống sót. Ta tin rằng mỗi quyết định của người đều đã được suy nghĩ cẩn thận.”
Quân lệnh như núi, xưa nay vẫn vậy.
Nhưng lời an ủi của ta dường như không có tác dụng. Hắn im lặng nhìn ta, khóe môi khẽ nhếch lên một nụ cười nhạt, mang theo vẻ châm biếm:
“Đúng vậy. Ra lệnh xử tử hàng nghìn phụ nữ và trẻ nhỏ, cũng là suy nghĩ cẩn thận.”
“… Dù tàn nhẫn, dù đáng thương, nhưng lỗi không phải ở người.”
“Vậy là ở ai?”
“Lỗi ở chỗ họ là người Hồ, chúng ta là người Hán. Lỗi ở chỗ họ sinh ra trong vùng hoang dã, còn ta sinh ra nơi phồn hoa. Lỗi ở chỗ họ muốn xâm chiếm, ta muốn giữ nhà. Lỗi ở chỗ họ muốn ăn no mặc ấm, ta cũng muốn cày cấy yên bình.”
Ta là phụ nữ, vốn dĩ nhạy cảm và yếu lòng. Nói đến đây, giọng ta nghẹn ngào:
“Chỉ là một cục diện sinh tử khốc liệt. Nếu người đã sai, người khác làm cũng chưa chắc đã đúng. Ai mà là thần tiên trên trời, làm sao có thể không chút sơ hở? Cái gáo gỗ dùng lâu còn nứt vỡ nữa là…”
Dẫu nói vậy, nhưng nghĩ đến hàng nghìn mạng người, ta vẫn không khỏi xót xa. Vừa nói, mắt ta đã ươn ướt, không nhịn được mà đưa tay lau nước mắt.