1.Cố Triết
Ta có một muội muội, loại muội muội hơi phiền phức.
Hồi bé nó cũng rất đáng yêu, lúc nào cũng ríu rít theo sát ta, miệng gọi ca ca. Thế quái nào nuôi lớn dần, tính nết càng chẳng giống nữ nhi.
Ta mười bảy, nó mười một.
Hôm đó đứng trước linh đường khóc ròng, nức nở đến cạn hơi. Vú nuôi muốn kéo nó về phòng, nó vùng thoát, sấn tới ôm chặt ta, nước mắt nước mũi dính đầy vạt áo trước.
Ta ôm nó thật chặt, giống kẻ hành lữ lạnh cóng ôm vầng lửa tàn cuối cùng.
Năm thứ mười một sau khi mẫu thân mất, phụ thân ta cũng tử trận.
Ta vẫn nhớ rõ ngày mẫu thân đi, trời nổi bão tuyết, huyết nhuộm đỏ đệm chăn, ta khóc thế nào, bà dường như có chút hồi quang, giơ tay vỗ đầu ta, gắng gượng mắng:
“Thằng ranh, lo chăm cha, chăm muội, chăm chính mình. Bằng không mẹ mày làm quỷ cũng sẽ…”
Câu kế nghẹn nơi cổ họng, mang theo bà sang cõi khác.
Từ đó, chỉ còn hai huynh muội chúng ta.
Ta chẳng biết dưỡng trẻ con ra sao, chỉ bằng sức mình bầu bạn bên nó, không đi chinh chiến nữa, trở thành vương gia rảnh rỗi. Khắp nơi tìm danh y, học dược lý, thế nhưng bệnh tình muội muội vẫn chẳng chuyển biến.
Bất đắc dĩ, ta vơ hết sách lạ, đồ vật lạ, chỉ mong nó có thêm chút niềm vui ngắn ngủi.
Ta từng nghĩ mình sẽ chết lúc hai tư tuổi, cùng đứa em duy nhất nhắm mắt xuôi tay.
Ai ngờ, khi A Kính mới mười lăm, chén độc tửu ấy đã ban xuống cho nó.
Hôm ấy, ta về gấp, thấy nó nâng chén rượu độc, cười với ta, bảo câu vô tình nhất trên đời:
“Ca ơi, rốt cuộc muội cũng sắp biết dáng vẻ của mẫu thân rồi!”
Ta choáng váng, chẳng còn nhớ bản thân thốt những gì.
Nó ngửa đầu, dứt khoát uống cạn.
Trời ơi, tội ta dù chất chồng, muốn trừng trị thì cứ lôi ta vào địa ngục, cớ sao đoạt mất muội muội cuối cùng của ta?
A Kính vốn mang độc từ trong thai, uống rượu này không chết ngay, nhưng nó biết chẳng còn sống được bao lâu, bèn cố tình khích ta, để ngày hôm sau ta cho nó rời khỏi phủ.
Ta có cách riêng phục mệnh vị hôn quân ấy, còn A Kính, kẻ huynh ích kỷ này cầm chân nó bao năm, chi bằng để nó ngao du thế gian một thời gian cuối.
…
Hôm Trường Minh về báo, ta khoác đồ tang, quỳ ở linh đường, yên lặng lạ thường.
Có người đã cứu muội muội.
Đuổi hắn đi, ta quỳ trước linh vị song thân, tay khẽ run, đặt thanh trường kiếm vừa mài xong xuống.
Chắc phụ mẫu đang phù hộ cho nó.
Sau đó, ta mở bức thư Trường Minh gửi, bên trong chỉ vỏn vẹn mấy chữ: “Kính vẫn an, chớ lo, sáu hôm nữa gặp.” Ký tên: “Mẫu Đơn.”
…
“Bông ấy đẹp.”
Ta lặng thinh. Bầu trời ngoài kia vần vũ mây xám, dạng thời tiết ta chán ghét nhất.
Từ tấm bé, hễ chạm lạnh, A Kính sẽ đau đớn quằn quại.
“Đang lo cho muội muội ư?”
Tư Mã Tranh cười cợt đầy ẩn ý, hôm nay ta thấy hắn chướng mắt vô cùng.
“Bớt nói nhảm.”
“Được.” Hắn cười nhạt, “Dạo trước A Triết hỏi ta ‘chứng minh thành ý’ thế nào, nay ta đem đến đây.”
“?”
“A Triết, ta đưa ngươi đi gặp nàng.”
“Ai?”
“Dĩ nhiên là Cố Kính.”
“Nàng ở đâu?”
“Ngươi thích Mẫu Đơn lắm sao?”
“?” Ta cau mày, “Ngươi có thể nói thẳng được chăng?”
Tư Mã Tranh hé cười, mắt phượng khẽ nheo, tựa như chỉ khi ta đáp câu vô nghĩa của hắn, hắn mới chịu giải thích.
“Ta không thích Mẫu Đơn, chẳng lẽ thích ngươi?”
Tên khốn ấy lại cười thành tiếng.
“Ngươi còn chưa gặp nàng, chỉ vì mấy lá thư đã dám nói mình ‘ưa thích?’”
Ta nén giận, giơ ngón giữa, “Lo thân ngươi trước đã, tên khốn.”
Nghe chửi, hắn càng cười ngoác miệng.
Mưa lớn bất chợt trút xuống, lộp bộp quật lên đám mẫu đơn trong sân. Hắn bẻ một cành, đùa nghịch chốc lát, xong gập quạt, bảo: “Đi thôi, nàng đến rồi.”
Mưa mù mịt. Tiếng ồn ầm ào. Hắn túm tay ta, không cách thoát.
“Khốn kiếp,” ta gầm khẽ, “Cố Kính không thể gặp nước lạnh!”
“Sẽ có người cứu nàng,” Tư Mã Tranh càng siết chặt, giọng lành lạnh, “Chẳng lẽ Vương gia muốn tự chạy ra, tuyên bố với cả thiên hạ rằng nàng vẫn sống ư?”
Ta dằn lòng bình tĩnh lại.
Chẳng mấy chốc, có một nam nhân áo đen phi ngựa đến, kéo A Kính cùng rời đi giữa màn mưa.
Ta nhận ra y – A Sở Đồ La.
Con trai Nam Cương Vương, đồ đệ của du y mười mấy năm trước.
“Bây giờ, có thể… bàn việc chứ?” Tư Mã Tranh buông tay, bỏ đi nụ cười giả tạo, trở về dáng vẻ cửu hoàng tử lạnh lùng, quý phái.
Dây thần kinh căng thẳng của ta cuối cùng giãn ra: “Đa tạ.”
Hắn cười: “Tính khí ngay thẳng của ngươi cũng khả ái đấy.”
“Cảm ơn khen ngợi, nhưng cút mẹ ngươi đi.”
Phụ thân, mẫu thân, A Kính và con sẽ sống tốt.
Vậy xin… cho phép chúng con chậm hội ngộ cùng hai người một chút.
2.Sau hôn lễ của Cố Kính
Gần đây ta hay buồn ngủ, thân thể uể oải, do dùng thuốc.
Lâm Dụ bảo bệnh của ta dần thuyên giảm, càng cần nghỉ ngơi, cấm ta đi lại nhiều.
Cố Triết viết thư khuyên ta đừng về mừng sinh thần huynh, tránh nhọc nhằn đường sá.
“Ta không đời nào mắng muội.” Huynh ấy viết thế.
Ta đáp: “Tốt nhất huynh đừng mắng ta!”
Quả nhiên thư kế tiếp, huynh ấy giận tím mặt.
Ta gửi một bọc hoa mẫu đơn sấy khô – đặc sản Nam Cương – huynh mới chịu nguôi.
Không giống Trường An, mùa đông nơi Nam Cương chẳng quá lạnh, ta chẳng cần ôm lò sưởi hay khoác cả đống áo choàng sặc sỡ.
Đầu tháng Mười Một, sức khỏe ta khá hẳn, bèn theo Lâm Dụ về thăm nhà.
Mới rời kinh thành chưa bao lâu, ta đã chẳng quen cái rét cắt da bên ấy.
Cố Triết miệng thì không nói, nhưng khóe mắt đỏ hoe. Từ cơm canh đến gian phòng, huynh đều chuẩn bị đúng sở thích của ta. Ngay cả chiếc thảm đặt trên sạp mềm ít dùng đến cũng thêu hoa lan chìm – vốn là thứ ta ưa nhất.
Lúc lên đường về lại Nam Cương, ta ngó qua cửa sổ xe, Cố Triết trông thấy ta ló đầu thì ngẩn ngơ chạy theo mấy bước, rồi bị vị hoàng đế thường phục kia giữ lại. Đến chừng đó huynh mới sực tỉnh, gượng cười phất tay chào ta.
Nhìn huynh cười, ta bỗng òa nước mắt không kiềm được.
Lâm Dụ đón mấy giọt lệ ấy, bàn tay trắng nõn khô ráo giờ như vương ánh lệ long lanh. Chàng khẽ bảo:
“A Kính, lại đây, để ca ca dỗ muội khóc.”
Không còn trông thấy bóng Cố Triết, ta vùi vào ngực Lâm Dụ, khóc nức nở không ngừng.
Giọng chàng trầm ấm, êm ái, chầm chậm cất lời khúc hát nhỏ của Nam Cương an ủi. Nhờ thế, ta ngủ lúc nào chẳng hay.
Lúc mở mắt, phong cảnh đã đổi thay. Từ góc này chỉ thấy bóng đêm bên ngoài, tinh tú thưa thớt, sau lưng dựa vào cơ thể nóng ấm. Lắng nghe kỹ, tiếng người càng náo động, xe cứ đi mãi.
“Về tới nhà rồi.” Lâm Dụ nghiêng cằm cọ lên tóc ta.
Ta vén màn, thấy phố phường giăng đèn kết hoa, khách bộ hành tấp nập: “Hôm nay là ngày lễ gì vậy?”
“Lễ Thần Hoa ở Nam Cương.”
Chàng nắm tay ta bước ra ngoài.
“Là Vương thượng! Vương thượng cùng Vương phi kìa!” Ai đó reo lên.
Những cánh hoa nhỏ ném tung rơi xuống tóc ta. Ta cúi nhìn, là một đóa linh lan.
Kế đó, vô vàn bông hoa khác từ khắp ngả đường ào ạt tung ra, tựa trận mưa hoa, tất cả đều đáp lên người chúng ta.
Ta ôm được cả ôm hoa, quay đầu nhìn Lâm Dụ. Chàng đứng thẳng tắp, mỉm cười nhìn ta, phất nhẹ mấy cánh hoa trên vai. Gương mặt trắng mịn dưới ánh trăng càng thêm tuấn mỹ, như ngọc dát bạc, toát ra nét phong hoa lạ thường.
“Hoa này tượng trưng cho lời chúc phúc của dân Nam Cương,” chàng nhếch mày, nét cười thoáng ẩn. Giọng chàng vẫn lành lạnh, vừa như bạc hà vừa như nguyệt quang. “Họ đều yêu thích nàng.”
Ta vui vẻ, xoay người lấy một ôm mẫu đơn lớn mang từ Trường An về, học họ tung ra.
Dân chúng reo hò. Lâm Dụ cười khẽ: “Mi Mi Nhĩ, nắm chặt tay ca ca.”
Chưa kịp phản ứng, chàng đã nhảy xuống xe, sải tay đỡ lấy ta.
“Vương phi chạy kìa!”
Còn chưa kịp kêu, chàng kéo ta luồn lách qua dòng người, cắm đầu chạy. Tà áo phấp phới, chuông bạc leng keng. Ngoái đầu nhìn ta, ánh mắt chàng ngập tràn ý cười, không còn vẻ lạnh lùng như buổi đầu gặp, mà rạng rỡ như ánh dương.
Vẫn đẹp nao lòng như xưa.
Gió rít bên tai, sau lưng tiếng reo hò huyên náo. Ta bị cuốn theo, bật cười, cười đến khoái trá.
“Vương phi ơi!”
Ai đó gọi ta, ta ngoảnh lại, vô số cánh hoa nhẹ tan như dẫn theo sức sống nồng nàn, bám gót chúng ta trải dài con phố, tựa vầng trăng xông vào cuộc đời khô cằn hiu quạnh của ta.
Lúc này, chúng ta như “đôi tội phạm” bị hoa đuổi ráo riết, “cấu kết làm bậy,” nguyện bên nhau trăm năm.
“Ca ca!”
Lâm Dụ quay đầu, trong mắt tràn ngập yêu thương, hơi thở gấp vì chạy.
“Chạy nhanh lên nào—”
Chàng bật cười, rực rỡ đến mức làm kẻ khác xao xuyến.
Chàng nói gì đó, tiếng ồn ập tới nhấn chìm lời chàng. Ta cố nhìn khẩu hình, thấy:
“Giữ chặt ta.”
“Được!”
Ta nắm rồi, ta đã nắm lấy chàng!
[ TOÀN VĂN HOÀN ]