3
Đêm đến, ta nghe thị nữ hầu hạ nói rằng Kỷ Hiểu Nguyệt tự nhốt mình trong phòng, nhịn ăn nhịn uống, còn lớn tiếng doạ sẽ khiến mẫu thân hối hận suốt đời.
Ta đau lòng thay mẫu thân.
Bà ngày ngày giúp phụ thân quán xuyến trong ngoài phủ, vốn đã chẳng dễ dàng, nay lại phải bận tâm chuyện của hai tỷ muội chúng ta.
Ta bưng một bát cháo ấm từ phòng bếp nhỏ, định mang đến cho Kỷ Hiểu Nguyệt, rồi tiện thể trò chuyện với muội ấy.
Nhưng khi đến sân viện của Kỷ Hiểu Nguyệt, ta phát hiện toàn bộ người hầu đã bị đuổi đi hết.
Cửa phòng muội ấy đóng chặt, chỉ còn lại một khe hở nhỏ ở cửa sổ bên.
Đèn leo lét từ kẽ hở chiếu ra, hắt những mảng sáng tối lốm đốm trên mặt gạch xanh.
Qua khe cửa, ta trông thấy mẫu thân đang cầm chén canh, cố khuyên Kỷ Hiểu Nguyệt ăn chút gì.
Song muội ấy chẳng nể nang gì, quay lưng đi, giọng đầy bất mãn vọng qua kẽ cửa:
“Mẫu thân, sao người lại đối xử tốt với Kỷ Nhược Đường đến thế? Người quá thiên vị rồi!
Nàng ta làm sai, người chẳng bao giờ trách mắng. Nàng ta lười biếng bài vở, người cũng xem như không thấy.
Chỉ vì nàng ta có dung mạo xinh đẹp ư? Chỉ vì nàng ta là đích nữ ư?
Nhưng hiện giờ, mẫu thân cũng là chính thất, đường đường là phu nhân Thừa tướng. Thân phận của con đâu thấp kém như người nghĩ?”
Mẫu thân đặt chén canh xuống, tựa hồ bất lực mà nhéo má Kỷ Hiểu Nguyệt:
“Con vẫn chẳng hiểu sao?
Ta cưng chiều nó, chính là để nó sinh thói kênh kiệu, để nó mắc sai lầm.
Ta không hề trách mắng nó học hành bê trễ, cũng chỉ để nó buông lơi bản thân, lấy sự ngu muội của nó làm nền cho tài hoa của con.
Con thử nghĩ xem, khắp kinh thành hiện nay, ai chẳng biết đích nữ phủ Thừa tướng là một kẻ chỉ được cái mã, vô tích sự?”
Dù vậy, Kỷ Hiểu Nguyệt vẫn tỏ ra không cam lòng, cãi lại:
“Nhưng mẫu thân thường mua áo váy mới, mua trâm cài đẹp, lại còn cho nàng ta tiền tiêu.
Ngay cả mũ lễ quán năm nàng ta cập kê, người cũng bỏ tiền lớn thuê thợ cao tay làm ra.”
Nói rồi, muội chu môi, đầy ủ ê.
Mẫu thân khẽ cười, ánh mắt ngập tràn sủng ái:
“Một cô nương nhỏ tuổi thì tốn bao nhiêu bạc?
Trâm cài mới nhất mà ta mua cho Kỷ Nhược Đường còn chẳng đáng giá bằng một nghiên mực của con đâu.
Bao năm nay, ta mời cho con những tiên sinh giỏi nhất, sắm cho con bút lông, giấy mực quý nhất, chỉ mong con gắng sức vượt mặt nó trên mọi phương diện.”
Bà lại bê chén canh, đưa tới bên môi Kỷ Hiểu Nguyệt:
“Đích tỷ của con càng vô dụng, con càng có nhiều cơ hội tiến vào hoàng cung.
Chúng ta nhất định dốc hết toàn lực dìm nó xuống, khiến nó thành bùn thối dưới rãnh nước.”
Kỷ Hiểu Nguyệt nghe xong, rốt cuộc cũng vui vẻ. Muội cầm lấy chén canh, uống cạn, cười ngọt ngào:
“Mẫu thân là tốt nhất.
Người cứ yên tâm, con nhất định sẽ nỗ lực, phải giẫm đạp Kỷ Nhược Đường dưới chân, khiến nàng ta vĩnh viễn không gượng dậy nổi!”
Mẫu thân vuốt đầu muội ấy, ôm muội vào lòng, dịu dàng nói:
“Ta và phụ thân con vốn thanh mai trúc mã, tình thâm ý trọng. Thế nhưng tổ mẫu con vì muốn trả ơn cứu mạng, lại ép phụ thân con cưới mẫu thân Kỷ Nhược Đường.
Năm ấy, nếu không phải ta dùng chút thủ đoạn, đánh ngất tiện nhân kia rồi đẩy ả xuống ao sen cho chết đuối, đâu có ngày lành hôm nay?
Ta hận ả đến tận xương, làm sao có chuyện ta thương yêu nữ nhi ả thật lòng chứ?
Tất cả những gì ta làm, đều là vì con.”
Kỷ Hiểu Nguyệt ngẩng đầu nhìn mẫu thân, thoáng chút ngờ vực:
“Mẫu thân, người hại chết mẫu thân Kỷ Nhược Đường, phụ thân có biết không?
Nếu người bị phụ thân phát giác, chúng ta chẳng phải gặp đại hoạ ư?”
Mẫu thân cúi mi, cười càng sâu:
“Đứa ngốc, phụ thân con há có chuyện không biết?
Năm ấy, chính phụ thân con đã giúp ta dẫn dụ ả ra ngoài.
Con nên nhớ, chúng ta mới là chân chính một nhà. Kỷ Nhược Đường chỉ là người ngoài, nàng ta chẳng qua là bàn đạp cho con bước lên địa vị cao. Con phải khéo tận dụng nàng ta.”
Giây phút ấy, đầu óc ta như bị khoét rỗng, tai ù đi như sấm động.
Trái tim nhói buốt tựa vạn mũi tên xuyên thủng, ta nghiến chặt răng, máu tanh xộc ra nơi kẽ môi.
Không ngờ chân tướng lại tàn khốc và trần trụi đến vậy.
Trước mắt ta một màu u tối, trong tai vẫn vẳng tiếng cười chói tai của hai mẹ con kia. Tất thảy giác quan tựa hồ dần mơ hồ.
Trong phòng, mẫu tử họ cười nói hân hoan.
Bên ngoài, ta chỉ thấy ánh trăng lờ mờ và gió lạnh đêm khuya như cắt da cắt thịt, dường như đang trải qua cái rét mướt giá buốt nhất trần đời.
Bấy lâu nay, trong mắt người ngoài, mẫu thân dường như đối với ta còn tốt hơn cả với Kỷ Hiểu Nguyệt.
Hết thảy những trang sức xa hoa, xiêm y lộng lẫy, hay món đồ nho nhỏ mà ta hằng mong muốn, bà luôn là người đầu tiên tặng cho ta.
Ta tưởng chừng không tốn mảy may sức lực đã nhận được muôn vàn sủng ái.
Vậy nhưng ta vẫn luôn ngờ ngợ, rằng bà thực lòng yêu thương Kỷ Hiểu Nguyệt hơn.
Thuở bé, ta ưa đi dạo hội chùa, bà thường tiện tay cho ta vài lạng bạc, lại sai gia nhân theo bảo vệ. Ta muốn bà cùng đi, nhưng lần nào cũng bị từ chối.
Mỗi khi ta vắng nhà, bà liền ở cạnh Kỷ Hiểu Nguyệt, rót trà bưng nước, làm điểm tâm, cùng muội ấy luyện chữ, đọc sách.
Mỗi lần tan học, mẫu thân đều sốt sắng kiểm tra bài vở của Kỷ Hiểu Nguyệt, chưa bao giờ ngó đến ta.
Có dạo, ta nghịch ngợm té gãy chân, thương thế nặng, chỉ mong được bà ở bên chăm sóc.
Nhưng bà vì lo tìm thầy dạy tranh cho Kỷ Hiểu Nguyệt, đành để mặc ta sốt cao suốt một đêm một ngày, gắng gượng chịu đau đớn một mình.
Thì ra, bề ngoài bà chiều chuộng ta, kỳ thực chỉ muốn “dưỡng ta thành phế”, để ta mãi là tấm bia, là phông nền cho nữ nhi ruột của bà bước lên vị trí cao sang.
Đáng hận hơn, bà lại chính là kẻ thù giết mẹ ta!
Họ coi ta là kẻ khờ khạo, mặc sức đùa bỡn.
Nực cười thay.
Họ quên rằng, thân mẫu của ta là đệ nhất tài nữ kinh thành.
Ta làm sao có thể cam chịu phận vô năng, mặc người sai khiến?
4
Hôm sau, khi ta và Kỷ Hiểu Nguyệt cùng đến phòng cầm (nơi học đàn), muội ấy thoạt trông thấy ta liền ngẩn ra:
“Tỷ tỷ, sao hôm nay tỷ đến sớm thế?
Thường giờ này, tỷ vẫn còn ngủ kia mà.”
Ta mỉm cười, ngáp mấy cái:
“Bên ngoài phủ có mấy con mèo hoang kêu ồn, khiến ta không chợp mắt được.
Thức đã rồi, ta nghĩ thôi thì tới sớm một chút.”
Nghe vậy, Kỷ Hiểu Nguyệt rõ ràng thở phào.
Nào biết người khiến ta mất ngủ đêm qua, vốn chẳng phải lũ mèo hoang…
Đêm qua, ta nghe Giang Nhược Hoa dặn dò Kỷ Hiểu Nguyệt:
“Dạo này, con đừng lo việc gì khác, hãy tập trung ôn lại kiến thức.
Tháng sau là kỳ thi Văn Khôi, ba người đứng đầu sẽ được miễn khảo sát, vào học thẳng Thánh Triết Thư Viện, cùng Thái tử đương triều đồng môn.
‘Gần quan được ban lộc’, nếu con được học chung với Thái tử, học ít chiêu thức quyến rũ mà mẫu thân dạy, hẳn lấy được lòng nam nhân này chẳng khó.”
Giang Nhược Hoa muốn Kỷ Hiểu Nguyệt nhập Thánh Triết Thư Viện, ta cứ nhất quyết không để họ toại nguyện.
Còn một tháng nữa mới tới kỳ thi, ta vẫn kịp chuẩn bị.
Trong giờ học cầm ngày hôm ấy, ta tỏ ra đặc biệt nghiêm túc. Không những chẳng trốn học như xưa, mà còn chủ động hỏi thầy về khúc phổ.
Đến bài kiểm tra cuối buổi, ta thuận lợi gảy xong khúc đàn thầy vừa dạy, còn tự ý sửa đôi chỗ, khiến giai điệu càng thêm uyển chuyển.
Khi tiếng đàn dứt, ánh mắt sâu thẳm của cầm sư bỗng sáng rực:
“Tuyệt diệu, thực là tuyệt diệu!
Ta đã nghiên cứu khúc này một thời gian, vẫn chưa xử lý tốt mấy đoạn. Nhược Đường tiểu thư nghĩ thế nào mà chỉnh được vậy?”
Ta cúi đầu, khẽ cười bẽn lẽn:
“Thầy khen quá lời. Con chỉ tùy tiện sửa đôi chút.
Hôm trước khi tới quán trà, nghe nhạc công gảy khúc tương tự. Con nghe qua một lần đã nhớ.”
Cầm sư nhìn lại phần phổ trước mặt, lắc đầu:
“Người thường sao có thể chỉ nghe một lượt liền nắm vững tiết tấu?
Huống hồ, khi nãy ta trông ngón đàn của tiểu thư rất chuẩn mực.
Rõ ràng tiểu thư có thiên phú.
Nếu Nhược Đường tiểu thư đầu tư thời gian tập trung hơn nữa, hẳn sẽ đạt thành tựu không nhỏ trong bộ môn cổ cầm.”
Trong phòng cầm hôm nay, ngoài Kỷ Hiểu Nguyệt còn có mấy vị tiểu thư khác cùng học đàn.
Nghe lời cầm sư, ai nấy đều kinh ngạc:
“Các ngươi có nghe không? Thầy bảo Kỷ Nhược Đường có thiên phú đấy.”
“Khắp kinh thành ai chẳng biết nàng ta chỉ được mỗi nhan sắc, còn đâu là phế vật?”
“Chả lẽ bấy lâu nay nàng ta ẩn mình, giả làm heo để ăn thịt hổ?”
Ta lẳng lặng để mặc họ xì xào, chẳng hề thanh minh.
Ta biết họ khó tin, bởi vị cầm sư dạy chúng ta – Chúc Cầm – chẳng phải người tầm thường.
Nghe đâu trước kia, Chúc Cầm là bạn đàn của Thái tử đương triều, một bậc kỳ tài cổ cầm, danh xưng “Cầm Tiên Đại Thịnh” cũng chẳng ngoa.
Năm xưa, để được Chúc Cầm khen đôi câu, Kỷ Hiểu Nguyệt tự nhốt mình luyện nửa tháng liền.
Nay ta chỉ sửa vài nốt, đã được Chúc Cầm công nhận có năng khiếu, gương mặt Kỷ Hiểu Nguyệt sầm lại hệt trời mưa giông:
“Nàng ta có tài cán gì chứ?
Theo muội thấy, chắc chỉ do vận may thôi.
Ai chẳng biết luyện cổ cầm cần kiên trì bền bỉ? Kiểu ba ngày đánh cá, hai ngày phơi lưới như Kỷ Nhược Đường, làm nên trò trống gì?”
Muội ấy tỏ rõ khinh bỉ, ta chỉ nhếch môi cười, lặng lẽ nhớ kỹ khúc phổ.